R10 Vô Địch Thiên Hạ
Join Date: Dec 2006
Posts: 88,250
Thanks: 11
Thanked 3,751 Times in 3,090 Posts
Mentioned: 5 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 8 Post(s)
Rep Power: 109
|
The Reporter
Liên Xô viện trợ cho Việt Nam
Albert Parry
Bài viết này đă được viết lại từ bản gốc, do báo THE REPORTER đăng ngày 12 tháng 1 năm 1967. Bản quyền © 1967 thuộc The Reporter Magazine Company. Tiến sĩ Parry là giáo sư về Văn minh và Ngôn ngữ Nga và là Chủ tịch Khoa Nghiên cứu Nga tại Đại học Colgate, Hamilton, New York. Ông là tác giả của quyển sách Russia’s Rockets and Missiles and The New Class Divided: Khoa học và Công nghệ chống lại Chủ nghĩa Cộng sản.
Mùa hè năm ngoái, [phóng viên] Ivan Shchedrov của báo Pravda đi cùng với một đơn vị Việt Cộng khi t́m cách đi qua khu rừng ở miền Nam, Việt Nam, khoảng 35 dặm về phía tây bắc Sài G̣n. Ông đă viết trên báo Pravda về kinh nghiệm của ḿnh mặc dù không tiết lộ nhiều sự kiện quan trọng. Gần đây, hai nhà quay phim truyền h́nh người Liên Xô, Oleg Artseulov và Vladimir Komarov, trở về từ miền Nam, Việt Nam, nơi mà họ đă sống và đi lại hàng tuần với các du kích quân của vùng đầm lầy và ruộng lúa thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.
Tháng 9 năm 1966, báo Komsomolskaya Pravda (báo khổ nhỏ của Nga, khác với báo Pravda: ND) đăng bốn bài viết dài về cuộc phiêu lưu của Artseulov. Vào cuối tháng 10 và đầu tháng 11, Komarov đă viết về những ấn tượng của ông ở miền Nam Việt Nam trên báo Izvestiya. Đánh giá về 16 bức ảnh được đăng lại trên hai tờ báo, tất cả đều thú vị và đầy sức thuyết phục mặc dù hơi tối, hai người Liên Xô đă cung cấp nhiều h́nh ảnh đáng chú ư.
Sự hiện diện của Liên Xô
Từ những tin tức như thế mà người ta có cảm giác về sự hiện diện của Liên Xô ngày càng gia tăng tại Việt Nam. Những bức ảnh có thể cho ra những mẩu thông tin, một số ngẫu nhiên và rải rác tuy không đáng kể, trên báo chí Liên Xô và Đông Âu khác, việc giám sát các bài viết về các chương tŕnh phát sóng thường xuyên gây ngạc nhiên về chủ đề bắt nguồn từ các đài phát thanh Đông Âu; và các tin tức về chủ đề đó đă đến với chúng tôi từ hàng loạt các nhà ngoại giao không cộng sản, những người lính, thủy thủ, phóng viên, du khách, và các nhà quan sát khác ở Đông Nam Á. Và một điều rơ ràng là: Liên Xô đang đẩy mạnh viện trợ cho Việt Nam.
Cái giá đưa hàng viện trợ vào trong nước (Bắc Việt) là cả một vấn đề đối với Liên Xô. Liên Xô ngày càng gia tăng việc gửi hàng bằng đường biển, dài 7.500 dặm, từ Đông Âu thay v́ dựa vào sự hợp tác không rơ ràng của Trung Quốc, qua việc cho phép người và trang thiết bị vận chuyển bằng đường bộ.
Măi cho đến gần đây, trong khi phần lớn hàng viện trợ của Liên Xô vẫn được chuyển bằng đường sắt và xe tải qua ngả Trung Cộng, mỗi cuộc đột kích của Mỹ trên các con lộ ở Việt Nam từ biên giới Trung Quốc hướng về phía Nam, đă cho Bắc Kinh thêm một lư do để ngăn chặn hoặc làm chậm các chuyến hàng của Liên Xô, sau đó [Trung Quốc] đổ lỗi cho Liên Xô về việc cung cấp nhỏ giọt và chậm chạp.
Mục tiêu hàng đầu của Bắc Kinh là buộc Moscow gia tăng viện trợ bằng đường biển và do đó gây ra sự phong tỏa của Mỹ về giao thông đường biển của Liên Xô cũng như các cuộc tấn công của Mỹ vào cảng Hải Pḥng. Với diễn biến như thế, Trung Quốc hy vọng sẽ dẫn đến sự tuyệt giao giữa Moscow và Washington.
Không phong tỏa
Mặc dù một số người trong Quốc hội Mỹ và những người Mỹ khác luôn bực tức, cho đến nay vẫn chưa có sự phong tỏa. Nhưng Hoa Kỳ đă bắt đầu ném bom ở vùng ngoại ô Hải Pḥng, và vỏ bom và đạn của Mỹ đă rơi gần những con tàu của Liên Xô: vài thủy thủ Liên Xô đă bị thương. Ngoài ra, các đơn vị hải quân Mỹ liên tục theo dơi và truy vấn, bằng xêmapho (semaphore), các con tàu cộng sản trên đường đến Việt Nam.
Tuy nhiên, dù có một vài ghi nhận về sự bực tức trong phản đối ngoại giao, nhưng Liên Xô an tâm rằng, Hoa Kỳ không sử dụng đến bất cứ biện pháp nghiêm ngặt nào trên biển và hàng không như cuộc khủng hoảng Cuba năm 1962, và họ (Liên Xô) tiếp tục gia tăng sự tiếp tế cho Bắc Việt bằng đường biển.
Nói chung, người ta không biết rằng Trung Quốc cũng có giao thương bằng đường biển như vậy với Bắc Việt. Hồi giữa tháng 8 năm 1966, tin tức từ Hong Kong cho thấy, cái gọi là giao thông xă hội chủ nghĩa đi vào Hải Pḥng, trung b́nh mỗi tháng gồm có từ 10-15 tàu Trung Cộng (Red China), ngoài 6-8 tàu của Liên Xô và 5 tàu từ các nước Đông Âu, mỗi tàu chở từ 6.000 đến 10.000 tấn hàng. Tuy nhiên, Chính phủ Liên Xô tuyên bố rằng, phần lớn giao thông bằng đường biển là đi đến Hải Pḥng. Tháng 8 năm ngoái, Liên Xô tuyên bố, hơn phân nửa trong tất cả các con tàu lúc đó đi vào Hải Pḥng là tàu đăng kư từ Liên Xô.
“Odessa-Mamma”, là tên gọi tŕu mến mà Liên Xô gọi bến cảng, là nơi quan trọng nhất của tất cả sự vận chuyển này. Một bản tin bằng tiếng Anh phát đi từ Moscow đến Nam Á vào ngày 23 tháng 12 năm 1965, đă hoan hỉ:
“Odessa là cảng lớn nhất trên Biển Đen. Tuyến đường bận rộn nhất của nó là tuyến đường đi đến Hải Pḥng. Một đoàn tàu lớn chở hàng liên tục miệt mài trên tuyến đường này”.
Khi đế chế phương Đông kết thúc, cảng Vladivostok cũng đóng một vai tṛ quan trọng. Tinh thần của những công nhân bốc vác địa phương được giữ vững bằng các cuộc biểu t́nh thường xuyên.
Hỗ trợ thủy thủ Liên Xô
Các tuyên bố chính thức của Liên Xô ca ngợi thủy thủ Liên Xô đă giúp đỡ các công nhân bốc xếp ở cảng Bắc Việt, bốc dỡ hàng trên tàu xong trong thời gian kỷ lục. Tuy nhiên, có thể phỏng đoán rằng, một phần của sự hăm hở của thủy thủ trong việc giúp đỡ này bắt nguồn từ mong muốn giảm bớt thời gian nguy hiểm của họ ở tại các cảng Bắc Việt. Báo cáo không chính thức từ các cảng Liên Xô có khuynh hướng xác nhận điều này. Không chỉ v́ lư do an toàn, mà c̣n v́ lư do tinh thần chiến đấu của các thủy thủ dường như được tham gia vào thực tế, theo đó một số tàu Liên Xô được công bố là đi đến các nước Mỹ Latin, cho đến khi những con tàu này đi tới Địa Trung Hải, nơi mà các thủy thủ đoàn được báo cho biết rằng, lộ tŕnh đă được thay đổi từ Havana đến Hải Pḥng.
Các tuyến đường bộ đi ngang qua Trung Quốc không bị bỏ mặc, ngay cả khi không c̣n vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô nhiều như trước đây. Lịch sử tranh chấp vũ khí của Liên Xô mang đầy màu sắc. Đầu năm 1965, Hà Nội cấp bách yêu cầu Moscow giúp hệ thống pḥng không. Hồ Chí Minh không chỉ muốn có súng không mà thôi, ông ta c̣n muốn có tên lửa đất đối không. Tháng 2 năm 1965, Liên Xô đồng ư gửi các chuyến hàng quan trọng đầu tiên về vũ khí và các nhóm kỹ thuật viên, với điều kiện Trung Quốc cấp phép cho số hàng này đi qua. Trung Quốc yêu cầu được phép kiểm tra. Liên Xô đồng ư, nhưng bắt đầu phàn nàn rằng Trung Quốc làm mất nhiều thời gian. Trung Quốc phản đối rằng Liên Xô gửi viện trợ quân sự và nhân viên của Liên Xô đi qua đất của Trung Quốc với sự vận chuyển nhanh nhất có thể, nhưng các trang thiết bị của Liên Xô gửi đến Việt Nam hoặc đă lỗi thời hoặc bị hư hỏng mà không xài được.
Trang thiết bị bị sao chép
Liên Xô bị [Trung Quốc] cáo buộc dùng số hàng viện trợ này cho Việt Nam như một dịp thuận tiện để loại bỏ các trang thiết bị hư hỏng trong kho của họ. Moscow đáp trả lại rằng, Trung Quốc thường tự động lấy đi các vũ khí tốt nhất của Liên Xô chuyển tới Hà Nội. Một người thạo tin ở Washington nói rằng đa số các hàng của Liên Xô bị chậm trễ là do Trung Quốc thực hiện việc copy, thay v́ giữ lại các linh kiện trang thiết bị nào đó. Ông cho biết:
“Một số trường hợp, các thiết bị của Liên Xô thực sự bị hư hỏng. Nó bị hư hỏng là do các chuyên gia Trung Quốc, những người không có chuyên môn. Họ không biết cách lắp ráp lại các trang thiết bị của Liên Xô bằng cách nào, sau khi tháo ra để sao chép”.
Tháng 3 năm 1966, đáp trả những lời cáo buộc của Trung Quốc, rằng Liên Xô giúp cho Hà Nội quá ít, lănh đạo Moscow đă gửi một lá thư bí mật tới tất cả các nước cộng sản anh em. Cẩn thận ṛ rỉ thông tin ra thế giới bên ngoài, thông qua những người cộng sản Đông Đức, bức thư nhấn mạnh rằng, trong năm 1965, Bắc Việt đă nhận được các thiết bị quân sự vũ khí từ Liên Xô trị giá 555 triệu đô la. Danh sách bao gồm, lắp đặt hệ thống tên lửa và súng pḥng không, máy bay MIG và máy bay khác, xe tăng, pháo binh chống tàu, và tàu chiến nhỏ.
Ngày 21 tháng 4 năm 1966, Nguyên soái Rodion Y. Malinovsky, Bộ trưởng Quốc pḥng Liên Xô, đă phát biểu công khai, qua đó một lần nữa, ông cáo buộc Cộng sản Trung Quốc cản trở viện trợ của Liên Xô trên tuyến đường bộ đến Bắc Việt.
Trong một bài đáp trả đầy phẫn nộ hôm 3 tháng 5, Bộ Ngoại giao Bắc Kinh tuyên bố rằng, từ tháng 2 năm 1965 khi xung đột ở Việt Nam lần đầu tiên gia tăng nghiêm trọng, cho tới cuối năm đó, Liên Xô đă chuyển cho Hà Nội qua ngă Trung Quốc tổng cộng 43.000 tấn thiết bị chiến tranh, một số lượng nhỏ nhặt, với quan điểm đầy khinh miệt của Bắc Kinh. Bắc Kinh nhấn mạnh rằng họ đă giúp đỡ, không phải cản trở, viện trợ của Liên Xô. Hơn nữa, Trung Quốc tuyên bố rằng trong một thời điểm, Trung Quốc đă cung cấp 1.780 xe vận tải hàng hóa Trung Quốc, trong đó Liên Xô chỉ sử dụng 556 chiếc.
Sự thật có lẽ là các tuyến đường sắt và đường xe tải Trung Quốc thường không tương xứng để chịu đựng sức nặng của các chuyến hàng của Liên Xô. Những chiếc xe vận tải hàng hóa bị dằn rất dữ; xe lửa th́ nhỏ và chậm. Hơn nữa, việc thay đổi khoảng cách chiều rộng đường ray từ Liên Xô và phía ngoài Mông Cổ từ 5 feet cho tới Trung Quốc c̣n 4 feet 8,5 inch và sau đó thậm chí ḷng đường ở miền Bắc Việt Nam c̣n hẹp hơn, liên quan đến việc nâng và chuyển dịch thân xe rất nhiều.
Tuy nhiên, Trung Quốc đă cố gắng đối phó với các vấn đề: đó là những người lính làm đường sắt, làm việc cật lực và có kỷ luật cao được gửi tới [chính phủ] Hồ Chí Minh, giữ phần phía Việt Nam về các tuyến đường tiếp tế phải đối mặt với các cuộc tấn công của Mỹ. Họ là những người lính xây dựng b́nh thường, trong bộ đồng phục, cơ cấu trong các đơn vị, nhưng không vũ trang. Họ sửa các tuyến đường và cầu, xây dựng các tuyến đường thay thế. Tin tức cho biết, một số được bố trí ở đường băng nhỏ gần biên giới.
Một số đội pháo pḥng không bảo vệ các trung tâm giao thông chính của Bắc Việt, nhưng thường công việc này là một đặc quyền bảo vệ với sự đố kỵ của người Việt. Tháng 7 năm ngoái, các quan chức ở Washington ước tính, lượng người xây dựng đường Trung Quốc như thế từ 30.000 đến 40.000 người. Hồi tháng 8, dự đoán đă lên đến 50.000 và trong tháng 12 lên đến 100.000 người (trong khi số người Việt bận rộn làm đường là ¼ triệu).
Vận chuyển bằng đường hàng không
Dĩ nhiên, có cách thứ ba để gửi viện trợ cho Hà Nội: bằng đường hàng không. Nhưng làm điều này có nghĩa là những chiếc bay máy bay chở hàng của Liên Xô bay qua Trung Quốc, và Bắc Kinh không không hề thích điều này. Họ khăng khăng đ̣i phải có giấy phép riêng cho từng chuyến bay, thay v́ phát hành một giấy phép cho tất cả các chuyến bay. Và như vậy, đường biển càng trở thành giải pháp. Máy bay trinh sát của Mỹ bay qua Hải Pḥng đă chụp được ảnh về nhiều hàng viện trợ chưa được bốc dỡ trên tàu Liên Xô, không chỉ máy móc b́nh thường, mà c̣n có cả tên lửa và thiết bị phóng tên lửa, cũng như súng pḥng không.
Kể từ mùa thu năm 1965, số lượng súng pḥng không ở Bắc Việt đă tăng từ 1.500 cho tới ít nhất 5.000 khẩu; một nguồn tin không chính thức ở Washington ước tính con số vào khoảng 7.000 khẩu súng. Vào mùa thu năm 1956, Bắc Việt chỉ có bốn khẩu đội pháo tên lửa đất đối không. Đến đầu tháng 10 năm 1966, con số này đă tăng lên đến 25 hoặc 30, mỗi khẩu có sáu dàn phóng. Lúc đó, có khoảng 130 địa điểm mà các khẩu đội pháo này có thể hoạt động, với 20% khẩu đội pháo hoạt động bất kỳ thời điểm nào.
Một điều thú vị là chương tŕnh phát thanh trong nước bằng tiếng Séc, phần lớn đă dành hết cho các vấn đề quân sự tại Việt Nam, bị theo dơi ở phương Tây khi nó vượt ra khỏi Praha hôm 29 tháng 7 vừa qua. Các sĩ quan Séc khi được hỏi, cho thấy họ không hài ḷng về cộng sản địa phương qua việc điều khiển tên lửa đất đối không ở Việt Nam. Một câu hỏi là:
Có sự tồn tại hệ thống pḥng không thiếu hiệu quả hơn trong việc ngăn chặn máy bay Mỹ ném bom ở Bắc Việt, và các nước xă hội chủ nghĩa [dĩ nhiên là muốn nói tới Tiệp Khắc] muốn nói như thế?
Đáp lời, Trung tá Vladimir Novak, thuộc Học viện Quân sự Séc, trấn an thính giả rằng, một cách tự nhiên, tên lửa pḥng không và radar của Séc tốt hơn. Ông ta giải thích:
Đó là v́ [vũ khí] pḥng thủ của chúng tôi được những người đă trải qua nhiều năm đào tạo điều khiển và cũng bởi v́ chúng tôi có một hệ thống cảnh báo hoàn hảo trên mặt đất từ lâu đời. Điều này, nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa không có. Tôi không muốn nói rằng, có rất ít máy bay Mỹ bị bắn hạ. Hàng chục chiếc đă bị bắn rơi. Nhiều chiếc khác đă bị pháo binh bắn hạ và một số bằng máy bay. Lư do là tên lửa đ̣i hỏi nhiều năm kinh nghiệm và huấn luyện.
Thật là sai lầm khi cho rằng sự ra đời của tên lửa có nghĩa là sự kết thúc của pháo pḥng không. Tên lửa th́ quá đắt tiền và tốn kém khi sử dụng chỉ để chống lại bất kỳ loại máy bay nào. Chúng được sử dụng để chống lại loại máy bay có mang bom đặc biệt nguy hiểm hoặc tấn công các mục tiêu rất quan trọng. V́ lư do này, nó không thể được xem là sẽ thay đổi đáng kể, ngay cả trong tương lai – rằng tên lửa sẽ trở thành [vũ khí] pḥng thủ duy nhất, chống lại các cuộc không kích. Tên lửa đúng hơn là trường hợp ngoại lệ …
Như vậy, thông qua Praha, chúng ta thu thập thêm một điều là, Liên Xô không muốn leo thang trong chiến tranh Việt Nam nếu họ có sự chọn lựa khác, và chắc chắn không phải bằng cách gửi số lượng tên lửa đất đối không lớn hơn nhiều so với số đă có ở đó (Việt Nam), cũng không phải bằng cách đào tạo số lượng lớn sĩ quan và binh lính Bắc Việt để vận hành các máy tính và bệ phóng.
Những người phóng tên lửa Liên Xô
Ở Washington, người ta tin rằng, một số nhân viên quân sự Liên Xô đă được phân công có mặt tại những chỗ phóng tên lửa đất đối không ở Bắc Việt, có thể đă bị thương hoặc thậm chí bị giết chết từ khi họ phục vụ bên cạnh các học sinh bản xứ trong điều kiện chiến đấu. Các chuyên gia Liên Xô đào tạo sinh viên ở Hà Nội hoặc gần Hà Nội, sau đó cùng đi với các sinh viên này đến các trạm chiến đấu thực tế để xem cách thực hành như thế nào dưới hỏa lực. Có thêm huấn luyện viên đi theo ra hiện trường, do đó, hầu như không thể tránh khỏi việc các sĩ quan và binh sĩ Liên Xô thực sự ở vị trí điều khiển màn h́nh radar và các thiết bị phóng tên lửa, ít nhất trong giai đoạn đầu hướng dẫn.
Theo báo Krasnaya Zvezda (Red Star), một ngày làm việc của những người phóng tên lửa Liên Xô ở Việt Nam chính thức kéo dài 13 giờ – c̣n không chính thức th́ lâu hơn. Thời gian làm thêm được dành để “tham vấn cá nhân” giữa các giáo viên Liên Xô và những sinh viên của họ. Lúc đầu, vấn đề là một số chiến sĩ trẻ Việt Nam hóa ra không chỉ thiếu kiến thức kỹ thuật cần thiết để điều khiển radar và bắn tên lửa, mà c̣n thiếu cả kiến thức về “giáo dục phổ thông,” như những người Liên Xô nhẹ nhàng đánh giá.
Và như vậy, những giờ rảnh rỗi được sử dụng để dạy những sinh viên người Việt: toán, hóa, và các yếu tố về “công nghệ điện“. Nhóm đă có các nhân viên gốc Việt nói tiếng Nga, nhưng nhiều giáo viên và học sinh “làm việc bằng một thứ ngôn ngữ riêng – hỗn hợp kỳ diệu giữa các từ tiếng Nga và tiếng Việt với các thuật ngữ kỹ thuật“. Cả hai bộ phận của nhóm học cách để hiểu nhau rất tốt, phóng viên báo Krasnaya Zvezda cho biết.
Huấn luyện ở Liên Xô
Phần lớn việc huấn luyện của Liên Xô cho các học viên Việt Nam diễn ra trong điều kiện an toàn hơn: ở Liên Xô. Con số kỷ lục tuyệt đối gây ấn tượng. Theo Đài phát thanh Moscow, trong chương tŕnh phát thanh bằng tiếng Quan thoại ở Trung Quốc, hôm 15 tháng 3 năm 1966, đă tự hào rằng, vào thời điểm đó, có gần 3.000 thanh niên và thiếu nữ trẻ Việt Nam được học tại Liên Xô, và rằng trong khi tổng số 2.300 chuyên gia Liên Xô làm việc ở Bắc Việt trong những năm 1955-1964, có 4.500 chuyên gia Việt Nam được đào tạo tại các trường cao đẳng và đại học Liên Xô, tính đến mùa xuân năm 1966.
Trong mùa hè và mùa thu năm 1966, những người Việt Nam này, gồm những người ghi danh vào học tại Trường Kỹ thuật Hàng hải cao cấp ở Odessa, đào tạo thành thuyền trưởng và kỹ sư cho Hạm đội Bắc Việt. Không phải Liên Xô để mặc cho Trung Quốc là nước duy nhất bảo trợ việc xây dựng đường sắt Việt Nam: trong số những người mới đến Moscow thời gian gần đây, là một nhóm thanh niên và thiếu nữ trẻ Bắc Việt học tại Viện Kỹ thuật Giao thông vận tải Đường sắt.
|