R11 Độc Cô Cầu Bại
Join Date: Aug 2007
Posts: 113,793
Thanks: 7,446
Thanked 47,162 Times in 13,136 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 511 Post(s)
Rep Power: 162
|
-781. Làm sao một người có thể vượt qua định kiến riêng của họ khi bị tâm tham dẫn đi, gắn chặt vào điều họ ưa thích rồi dẫn tới kết luận riêng của họ. Chỉ nên, biết ǵ th́ nói nấy.
– 783. Người trí nói một tu sĩ cao thượng là khi sống b́nh an, tâm hoàn toàn vắng lặng không khoe ǵ rằng tôi giỏi thế này thế kia đi đâu trong cơi (đời) này cũng không thấy có tự ngă.
4) Kinh về Thanh Tịnh:
“Niềm tin Ấn Độ cổ thời là, sự trong sạch có thể đạt được khi một người nh́n thấy, gặp gỡ hay thân cận một người trong sạch.
Tương tự, họ tin rằng nghi lễ tôn giáo cũng có thể giúp họ trong sạch. Nghĩa là, tin sự thanh tịnh hay sức mạnh tâm linh có thể truyền trao qua việc thân cận hay nghi lễ. Đức Phật nói rằng không hề có chuyện thanh tịnh hóa đạt được bằng thế giới ngoại xứ (thế giới bên ngoài).”
-788. [Bà la môn nói:] Nơi đây, tôi thấy một người thanh tịnh, bậc Thượng nhân, người xa ĺa tất cả bệnh. Tôi sẽ được thanh tịnh hóa nhờ những ǵ được thấy.
[Đức Phật:] Được thuyết phục như thế và rồi xem đó là cao nhất người ta rơi vào lưới kiến thức đó trong khi trầm tư về sự thanh tịnh.
-789. Nếu người ta được thanh tịnh hóa nhờ những ǵ được thấy hay nếu có ai tin sẽ thoát khổ nhờ kiến thức nghĩa là họ nghĩ sẽ được thanh tịnh hóa nhờ cái ǵ khác. Sẽ sai lầm khi nghĩ như thế, khi tin như thế.
-790 Một người phạm hạnh không nói rằng thanh tịnh sẽ có v́ dựa vào ǵ khác, hay v́ dựa vào thấy nghe chạm xúc hay v́ dựa vào giới luật hay nghi lễ tôn giáo Thiện và Ác không c̣n dính mắc ǵ nữa với người đă buông bỏ hết, không c̣n tạo tác ǵ. Lời dạy cho thấy chính chúng ta phải tạo sự thanh tịnh. Không nương tựa vào bất cứ cái ǵ dù là nghi thức cúng tế, giống như “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” của Kinh Kim Cang. Khi không vướng mắc hoặc nương tựa vào đâu, dù đúng dù sai, dù phải dù trái, dù thần dù thánh….th́ sẽ đạt tới thanh tịnh.
5) Kinh về Tối Thượng
“Kinh này nói rằng những ai tự cho ḿnh đă có được tầm cao nhất của cái nh́n (một tri kiến, một quan kiến, một lập trường, một giải thích [về vũ trụ và con người…) và cho là thấp kém tất cả các quan kiến khác – người đó c̣n rơi vào tranh căi, c̣n thấy có “tôi” (ngă) và “của tôi” (ngă sở), c̣n nắm giữ những ǵ được thấy nghe hay biết.”
– 796. Nếu có ai chọn một cái nh́n [quan kiến, quan điểm] nào, cho rằng cái nh́n đó là tối thượng trên thế giới và nói rằng tất cả cái nh́n khác là thấp kém – như thế, người đó chưa thoát khỏi tranh căi.
6) Kinh về Tuổi Già
Kinh này gồm các bài kệ từ 804 tới 813.-804. Đời sống này thực sự ngắn ngủi – chưa tới 100 năm, ngươi sẽ chết và nếu sống thọ hơn, ngươi lúc đó sẽ chết v́ tuổi già.
805. Người ta sầu khổ v́ những cái “của tôi” – không tài sản nào là thường c̣n. V́ thấy những ly tan, không ǵ là “của tôi” ngươi chớ nên sống đời thế tục.
-806. Tất cả những ǵ người ta nhận là “của tôi” đều bị rời bỏ trong cái chết. Biết như thế, người trí không nên sống ích kỷ với những ǵ cho là “của tôi.”
7) Kinh dạy Tissa Metteyya “Trong kinh này, ngài Tissa Metteyya hỏi Đức Phật về nguy hiểm của t́nh dục. Đức Phật nói rằng hạnh cao quư là sống đời độc thân, tự rèn luyện trong cô tịch. Nhưng cũng chớ bao giờ tự xem ḿnh hơn người, dù đă xa ĺa ái dục, dù đă vào được bậc cao quư.”
8) Kinh Pasura: Chớ Tranh Căi
“Kinh này là lời Đức Phật nói với Pasura, một du sĩ nổi tiếng về biện luận đă tới t́m gặp Đức Phật để tranh luận về giáo thuyết. Đức Phật chỉ trích thói quen tranh căi, biện luận, kiểu tự cho giáo thuyết ḿnh là tối thắng và xem thường pháp của người khác. Thêm nữa, Đức Phật nói rằng Ngài là bậc Thuần Tịnh, không nắm giữ một quan điểm (quan kiến, lập trường, giáo thuyết) nào như là tối thượng, và do vậy không thấy có ǵ để tranh căi.”
828. Khởi lên tranh căi giữa các du sĩ sẽ gây ra cả vui thắng, buồn thua. Do vậy, chớ nên tham dự tranh căi không lợi ích ǵ trong các lời khen.
-829. Khi được khen giữa hội chúng v́ đưa ra lư thuyết lôi cuốn họ vui cười, tăng thêm kiêu mạn v́ đạt được như ước vọng.
9) Kinh về Không Giữ Quan Điểm Nào. Tóm lược ư kinh: Ĺa ái dục, bỏ tranh căi. Không nắm giữ một pháp nào. Y hệt như người lên tới đầu sào trăm trượng và bước thêm một bước vào chỗ không ǵ nương tựa. Kinh này gồm các bài kệ từ 835 tới 847.
839. (Đức Phật nói với Magandiya) Ta nói rằng thanh tịnh không thể tới từ quan điểm, học hỏi, kiến thức, giới luật, và nghi lễ tôn giáo; cũng không thể tới từ thiếu vắng quan điểm, học hỏi, kiến thức, giới luật, và nghi lễ tôn giáo. Nhưng chỉ là khi buông xả hết, khi không nắm giữ ǵ hết, th́ sẽ b́nh an (không dựa vào đâu), không c̣n muốn sanh hữu nữa.
10) Kinh Trước Khi Thân Tan Ră Duyên khởi /nguyên do của kinh là do Đức Phật nhận thấy một số chư thiên trong hội chúng khởi tâm thắc mắc, “Nên làm ǵ trước khi thân này tan ră?” Đức Phật mới dùng thần thông tạo ra h́nh ảnh một vị Phật đi cùng với 1,250 tỳ khưu tụ hội trên không trung, và Đức Phật Thích Ca dùng thần thông để vị Phật (trên không, do thần thông tạo ra) đặt câu hỏi để Ngài nói bài kinh này.
Nói thân tan ră, là nói về sự chết hay khi hấp hối. Kinh khởi đầu với một người hỏi Đức Phật rằng phải nh́n thấy ǵ (kiến) và giữ giới (sila) như thế nào để được b́nh an – người b́nh an c̣n gọi là người tối thắng.
– 849. Người đă không c̣n tham ái trước khi thân tan ră, không dựa vào những ǵ trong quá khứ không toan tính tư lường trong hiện tại cũng không ước muốn ǵ ở tương lai.
-861. Không lấy ǵ trên đời làm của ḿnh, không buồn v́ những ǵ ḿnh không có, không dính ǵ tới bất kỳ giáo thuyết nào người đó thực sự được gọi là B́nh An.
Cứ y theo lời Phật dạy, một người sắp chết mà c̣n nuối tiếc, dặn ḍ thân nhân, con cháu làm chuyện này chuyện kia… th́ không thể có b́nh an. Nếu niệm Phật được trước khi chết cũng có thể giúp chúng ta b́nh an.
11) Kinh Cội Nguồn Tranh Căi
-862. (Câu hỏi) Từ đâu khởi lên các thứ gây gỗ, tranh căi tuyệt vọng, nỗi buồn, ích kỷ, tự hào kiêu mạn, và lời nói xấu? Từ đâu chúng khởi lên, xin trả lời với.
-863 (Đức Phật) Từ những ǵ được ưa thích sẽ hiện ra gây gỗ, tranh căi tuyệt vọng, nỗi buồn, ích kỷ, tự hào kiêu mạn, và lời nói xấu. Gây gỗ và tranh căi nối kết với ích kỷ. Lời nói xấu hiện ra, khi tranh căi khởi dậy.
– 877 Biết rằng những pháp đó đều do duyên khởi người trí sẽ khảo sát luật duyên khởi. Ngộ xong, người giải thoát không tham dự tranh căi. Người trí không c̣n dính ǵ nữa với hữu/vô, sinh/diệt.
Tác giả nhận xét rằng trong kinh này có chữ “danh” và “sắc” trong đó “danh” là dịch từ chữ “nama” tức là vận hành của tâm; và chữ “sắc” là dịch từ chữ “rupa”. Hầu hết dịch giả dịch chữ “sắc” là “form” hay “appearance”. Danh và sắc có khi c̣n được dịch là tâm và thân. Tuy nhiên, chữ thân không riêng chỉ cơ thể người. V́ sắc được hiểu là đối tượng của tâm, tức là: cái được thấy, cái được nghe… cái được suy nghĩ tư lường.
12) Tiểu Kinh Về Tranh Căi “Những ǵ được thấy, những ǵ được nghe, những ǵ được cảm thọ… chỉ là bức màn của Niệm hiện lên trong tâm. Hăy lẳng lặng để các pháp hiển lộ Như Thị, để cái được thấy chỉ là cái được thấy, để cái được nghe chỉ là cái được nghe… Lúc đó là thanh tịnh. Lời dạy trong kinh y hệt như Thiền Tông, qua các câu đầu trong Tín Tâm Minh của Tổ Tăng Xán, bản dịch của Trúc Thiên:
Đạo lớn chẳng ǵ khó
Cốt đừng chọn lựa thôi
Quí hồ không thương ghét
Th́ tự nhiên sáng ngời
-880. (Đức Phật) Nếu nói, ai không đồng ư giáo thuyết kẻ khác là trở thành kẻ khờ, là bất toàn trí tuệ th́ tất cả đều khờ, đều bất toàn trí tuệ v́ tất cả đều bám quan kiến riêng của họ.
|