News Library Technology Giải Trí Portals Tin Sốt Home

Go Back   VietBF > Other News|Tin Khác > Stories, Books | Chuyện, Sách

Số bài trả lời (Reply's) : 5   -   Số người đă xem (Viewers) : 483
Reply
 
Thread Tools
  #1  
Old  Wink Đại Cương Triết Học Trung Quán
Click image for larger version

Name:	trung.jpg
Views:	0
Size:	26.7 KB
ID:	1499150  
.- Giới Thiệu Về Tác Phẩm Và Tác Giả

Theo nhận định của T.R.Murti, "Trung Quán luận (Màdhyamika) là một luận giải cách tân của Phật giáo. Nó đào sâu vào Phật giáo bằng cách phân tích trọn vẹn những vấn đề tinh tế trong giáo nghĩa. Đó là một sự cố gắng bền bỉ để tổng hợp các kinh luận Phật giáo thông qua cái nh́n của hai chân lư : chân đế và tục đế" (73).

Chúng ta biết rằng, Trung Quán luận là một trong ba bộ luận nổi tiếng của Long Thọ. Song, về vai tṛ lịch sử, nó có một tầm vóc vô cùng vĩ đại trong tiến tŕnh phát triển lịch sử-tư tưởng của đạo Phật, nhất là trong một bối cảnh phức tạp của các hệ tư tưởng tại Ấn Độ lúc bấy giờ. Do đó, Trung Quán luận rất được quan tâm bởi các học giả Đông, Tây ; và theo đánh giá của P.T.Raju, trong "Idealistic Thought of India", th́ tác giả của tác phẩm này là "một nhà biện chứng độc nhất vô nhị trên thế giới".

Nội dung của Trung Quán luận gồm có 4 quyển, chia thành 27 phẩm với tất cả 446 bài tụng. Mỗi bài tụng có 4 câu năm chữ, tổng cộng gồm 1.784 câu, 8.920 chữ. Tác phẩm nguyên văn bằng tiếng Sanskrit, do La Thập dịch sang Hán văn. Bên cạnh bản dịch, c̣n có các bản chú giải của Vô Trước, Thanh Mục, Cát Tạng...

Về tác giả, Nagarjuna, người thuộc chủng tộc Naga (rổng) ở miền Nam Ấn, ra đời khoảng thế kỷ thứ III T.L, trong một gia đ́nh theo đạo Bà La Môn. Ngài được sinh ra dưới gốc cây Arjuna, nên được đặt tên Nagarjuna - Long Thọ, Long Thắng, Long Mănh.

Thuở thiếu thời, Long Thọ là người thông minh, học rộng, làu thông kinh điển Bà La Môn và học được huyền thuật. Truyền thuyết kể rằng, một hôm, Long Thọ cùng bạn bè rủ nhau dùng phép tàng h́nh để vào cung trêu chọc các cung nữ. Vua biết được, ra lệnh chém đầu ba người bạn, riêng Long Thọ được thoát thân. Do ăn năn sám hối, Ngài một ḿnh đến trước tháp Phật phát tâm xuất gia thọ giới. Từ đó, Ngài bắt đầu nghiên cứu Tam tạng, dầu có thông hiểu nhưng vẫn không thỏa măn. Một hôm, do tâm khinh mạn sinh khởi, Ngài tự chế ra giới luật, ăn mặc kiểu mới và ở riêng trong căn pḥng thủy tinh. Nhân duyên hội ngộ, Bổ Tát Đại Long thương xót đến dẫn Ngài vào Long cung rồi truyền trao kinh pháp Đại thừa. Từ đó, Ngài nỗ lực truyền bá chánh pháp, cho đến khi về già. Một trong những đệ tử xuất sắc của Long Thọ là Đề Bà...

Về mặt tư tưởng, nói đến Long Thọ là phải nói đến Bổ Tát Mă Minh, tác giả của "Đại thừa khởi tín luận". Thông qua tác phẩm này mà tư tưởng Đại thừa của Mă Minh đă gây sự chú ư cho các bậc thức giả đương thời. Và về sau, chính Long Thọ là người làm cho hệ tư tưởng Đại thừa trở nên hoàn thiện. Tất nhiên, ngoài Long Thọ cũng c̣n có những nhà Đại thừa khác, như Harivarman. Tuy nhiên, với trí tuệ xuất sắc và biệt tài về nghị biện, mà Long Thọ được xem như là (một trong những) triết gia đầu tiên trong cuộc cách tân lịch sử-tư tưởng Phật giáo.

II.- Luận Đề Triết Học Cơ Bản Trong Trung Quán Luận

Phần tŕnh bày đại cương về các luận đề triết học cơ bản trong Trung Quán luận này được dựa vào nguyên bản Trung Quán luận do ngài La Thập dịch trong Đại tạng kinh, và phần giải thích được dựa vào nhiều bản sớ giải của các Luận sư Tăng Duệ (No.1564 [Cf.Nos.1565-1567] - lời tựa viết cho Trung Quán luận), Thanh Mục (No.1564 [Cf.Nos.1565-1567] - phần sớ giải) và Vô Trước (No.1565 [Cf.Nos.1564, 1566, 1567] - Thuận Trung luận nghĩa nhập Đại Bát Nhă Ba la mật kinh) - xem Đại Chính tân tu, Đại tạng kinh, tập 30.

A/- Biến Chứng Phủ định (Dialectical Negation)

Toàn bộ triết lư Trung Quán hoàn toàn nằm ngay nơi tiền đề độc nhất vô nhị của nó, đó là "Nhất Thiết Pháp không - SARVADHARMÀSUNYATA - Tất Cả Pháp đều Là Không". Đây là một tiền đề vĩ đại làm đảo lộn tất cả cơ cấu trật tự trong đời sống tri thức của con người. V́ lẽ, nếu không thừa nhận nó, th́ măi măi con người không thể đạt đến chân lư, nghĩa là chỉ chấp nhận và bằng ḷng với thế giới sự vật hiện tượng sinh diệt liên hồi này ; và như thế, th́ giá trị của chân lư mặc nhiên bị phủ nhận ngay trong đời sống của con người. Và, đời sống của con người, nếu không được soi sáng bởi chân lư, hay được tồn tại trong chân lư, th́ tất nhiên, đời sống đó sẽ không có bất kỳ một ư nghĩa và giá trị nào.

Ngược lại, nếu thừa nhận nó như là một chân lư phổ biến, th́ xem như là phủ nhận tất cả hiện thực của con người và thế giới thực tại khách quan.

Nhưng, như trong thực tế, con người đă không thể lẩn trốn trước sự hiện hữu của thế giới thực tại với muôn ngàn sự vật hiện tượng, sai biệt đa thù đang hiện bày lồ lộ trước mắt, hà huống là có thể chối từ sự hiện hữu của con người chính nó và các đối tượng hiện thực của nó - tức là thế giới thực tại.

Và nếu như thế, th́ tiền đề Trung Quán này quả thực là chứa đầy mâu thuẫn. Và, trong tri thức thường t́nh, những cái mâu thuẫn th́ đều không hợp ; và những cái không hợp lư, th́ không thể tồn tại v.v... Nhưng tại sao tiền đề của Trung Quán vẫn tồn tại như là chân lư hiển nhiên ? Đặt vấn đề như thế là để khởi sự đi vào nghiên cứu triết lư Trung Quán.

1- Ư nghĩa phủ định của Trung Quán

Như vừa tŕnh bày, "Nhất thiết pháp không" là một mệnh đề - phát biểu phủ định, nó là một sự phủ định tất cả, mà trước hết là phủ định mọi đối tượng được xem như là sự thể hiện thực (actual dharma), rồi sau đó, là phủ định chủ thể (subject) của đối tượng bị phủ định (object) ; thế có nghĩa là nó, không những phủ định mọi sự thể hiện hữu mà c̣n phủ định luôn cả chính nó.

Và, khi mà mọi giá trị đều bị phủ định, như vai tṛ hiện hữu của chủ thể và đối tượng, th́ tiền đề của Trung Quán cũng chẳng có giá trị ǵ hết, có cũng như không. Và khi mà một tiền đề đă được xem là không có tác dụng, th́ sự thiết lập của nó cho dù có hợp lư, cũng không có giá trị ǵ trong sự phủ nhận thế giới thực tại hiện hữu ; và cũng không có bất kỳ một sự liên hệ nào đối với thế giới thực tại hiện hữu. Do đó, ư nghĩa phủ định của Trung Quán, trước hết là "không phủ định ǵ cả". V́, mệnh đề phát biểu của nó là "Nhất thiết pháp không" ; mà, khi "tất cả đều là không" th́ lấy cái ǵ để phủ định cái ǵ? Chúng ta thấy rằng, trên thực tế, trước hết phải có một sự thể nào đó, rồi sau mới có thể khẳng định hay phủ định. C̣n, nếu đă không có ǵ hết, th́ lấy cái ǵ mà phủ định, và phủ định cái ǵ. Như thế, ở đây không thể dùng ư nghĩa phủ định theo quan điểm thông thường của con người để khảo sát tính cách phủ định của Trung Quán.

2- Cơ sở thiết lập mệnh đề phủ định của Trung Quán

Thông thường, khi phát biểu một mệnh đề hoặc là khẳng định, hoặc là phủ định, th́ trước hết phải tuân thủ trật tự của kết cấu ngữ pháp ; nghĩa là, trong một câu phát biểu, phải có đủ chủ từ (subject), động từ (verb) và túc từ (object). Và trong nguyên lư tương quan của ngôn ngữ, th́ một mệnh đề phát biểu phải mang ư nghĩa hoặc đúng, hoặc sai ; và cái đúng phủ định cái sai. Do đó, một phát biểu phủ định luôn luôn phải hội đủ các yếu tố: a)- Chủ thể phủ định, động từ phủ định, và đối tượng bị phủ định.
b)- Chủ thể nhận định sai, động từ nhận định sai, và đối tượng bị nhận định sai. Trên cơ sở này, bên đúng (a) có thẩm quyền phủ định bên sai (b).

Nhưng, mệnh đề phát biểu phủ định của Trung Quán là "Nhất thiết pháp không", như thế nó đă hoán vị từ phủ định sang khẳng định - khẳng định rằng "Tất cả đều là không". Và rằng, khi mọi sự được xem là không, có nghĩa là mọi đối lập giữa đúng và sai, giữa có và không v.v... đều bị phá hủy ; và một lần nữa, nó tự phá hủy nó ngay trong kết cấu văn pháp của chính nó. Như thế, đối với Trung Quán, mọi lư luận đều hóa ra một thứ tṛ chơi - chơi chữ. Và với nó, lư luận của trần gian bỗng trở thành mộng mị, v́ mọi luận lư đều đi vào ngơ cụt, nói có cũng không được, nói không cũng không được, nói vừa có vừa không cũng không được, và nói vừa không có vừa không không cũng không được. Hễ đụng vào khả thể nào là nó đập tan ngay khả thể, cho đến khả thể của ngôn ngữ cũng bất lực. Như thế tại sao sứ mệnh của Trung Quán được gọi là "phá tà hiển chánh" - đánh thức giấc mộng cuổng si của những kẻ mê lầm ? Điều này được Thanh Mục giải thích rơ ở phần sau.

3- Yếu tính tương quan trong phát biểu của một mệnh đề

Mục tiêu lư tưởng của logic tư duy, thông thường là sự cần phải đạt đến một tiến tŕnh biện chứng giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, hay nói khác đi, đó là sự tương ứng giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Do đó, sự thể biểu tượng, luôn luôn là biểu tượng cho một cái ǵ khác nó, chớ không thể biểu tượng về chính nó. Cũng như hoa sen, tự thân nó không cần phải biểu tượng cho nó nữa, v́ chính nó đă là hoa sen rổi ; và mọi thuộc tính của nó luôn luôn được trưng bày bởi trong chính sự hiện diện của nó. Nhưng khi người ta dùng hoa sen để biểu trưng cho những đặc tính cao thượng và bất nhiễm, tất nhiên cái đặc tính cao thượng và bất nhiễm đó không phải là của hoa sen.

Tương tự như vậy, chim bồ câu được dùng để biểu tượng cho ḥa b́nh, nhưng ḥa b́nh hẳn không phải là chim bồ câu. Từ đó, cho thấy rằng mối tương quan giữa biểu tượng và thực tại, dầu có tương ưng, nhưng không phải là nhất thể. V́ lẽ, giữa thực tại và cái biểu tượng cho thực tại th́ hoàn toàn khác nhau. Như vậy, khi nói đến yếu tính tương quan trong phát biểu của một mệnh đề là nói đến tiến tŕnh tương ứng của một nhận thức, mà trong đó, chủ thể nhận thức và đối tượng được nhận thức cũng xuất hiện trên nguyên lư hoặc là đồng thể, hoặc là sai biệt. Nghĩa là, hoặc chủ thể nhận thức và đối tượng được nhận thức là một, hoặc chủ thể và đối tượng là hai. Trong trường hợp nếu là một, th́ tác giả và tác nghiệp là đồng nhất. Tỉ dụ, người thợ gốm (tác giả) và đồ gốm do ông làm ra (tác nghiệp), ở đây sao gọi là một được ? V́, nếu là một th́ hóa ra, người thợ gốm và đồ gốm là đồng thể?

Một dẫn dụ khác, trong trường hợp nếu là hai, như tỉ dụ củi và lửa của Thanh Mục, rằng nếu chủ thể và đối tượng là hai đơn thể biệt lập, như sự biệt lập của củi và lửa, th́ đâu cần có củi mới có lửa? Mà trái lại, lúc nào và ở đâu lửa tự nó vẫn có, và nếu như thế, đây là một loại lửa vô dụng, nó không có năng lực thiêu đốt cái ǵ hết. Do đó, yếu tính tương quan ở đây, theo Trung Quán có hai loại: một là dị thời, hai là đồng thời. Trong tương quan dị thời, có 4 yếu tố:

1- Thường (lửa - lúc nào và ở đâu cũng có) ;
2- Vô nhân (lửa - không cần có củi) ;
3- Vô duyên (lửa - không cần bất cứ điều kiện nào để nó hiện hữu) ;
và 4- Vô tác dụng (lửa - không có chức năng thiêu đốt).

Bài cùng thể loại :


  • florida80
    R10 Vô Địch Thiên Hạ
    florida80's Avatar
    Release: 12-14-2019
    Reputation: 127292


    Profile:
    Join Date: Aug 2007
    Posts: 73,550
    Last Update: None Rating: None
    Attached Thumbnails
    Click image for larger version

Name:	trung.jpg
Views:	0
Size:	26.7 KB
ID:	1499150  
    florida80_is_offline
    Thanks: 4,670
    Thanked 33,061 Times in 8,295 Posts
    Mentioned: 1 Post(s)
    Tagged: 0 Thread(s)
    Quoted: 507 Post(s)
    Rep Power: 92 florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    The Following User Says Thank You to florida80 For This Useful Post:
    anhhaila (12-14-2019)
    Old 12-14-2019   #2
    florida80
    florida80's Avatar
     
    R10 Vô Địch Thiên Hạ
    Join Date: Aug 2007
    Posts: 73,550
    Thanks: 4,670
    Thanked 33,061 Times in 8,295 Posts
    Mentioned: 1 Post(s)
    Tagged: 0 Thread(s)
    Quoted: 507 Post(s)
    Rep Power: 92
    florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    Reputation: 127292
    Default

    Ngược lại, trong tương quan đồng thời, lửa chỉ có thể hiện hữu khi củi bị đốt, sự có mặt của nó là tùy thuộc vào củi có bị đốt hay không ; và đối với củi, trước khi bị đốt, nó cũng chưa hẳn là củi, v́ nó có thể được trở thành một cái ǵ đó khác củi, như khúc cây, cái chân bàn, cái khuôn ảnh... Như thế, rơ ràng hoàn toàn không có bất kỳ một tự tính cá biệt nào có thể được xem như là yếu tính đặc thù của củi hay của lửa. Và do đó, củi và lửa trong cái nh́n của Trung Quán, được xem là hiện hữu-giả lập ; tương tự như thế đối với tất cả pháp.

    Ở đây, cái yếu tính của chủ thể không có, cái yếu tính của đối tượng cũng không có, vậy lấy ǵ làm yếu tính trong tương quan để phát biểu một mệnh đề ? Đó chính là cái tương quan trong tác dụng-hiện hữu, một thứ tương quan mà Thanh Mục bảo rằng, cũng chỉ là sự giả định theo tập quán suy tư của con người mà thôi. Do đó, khi chủ thể và đối tượng được đặt ra để phát biểu về một chân lư nào đó (như nói : Nhất thiết pháp không), như thế, không có nghĩa là thừa nhận sự hiện hữu đích thực của chủ thể và đối tượng.

    Nhưng, v́ muốn phá hủy mọi kiến chấp sai lầm về hữu, vô, sinh, diệt, thường, đoạn, khứ, lai v.v... mà phải giả định đó thôi. Và trong mọi sự giả định về thực tại, như thế này th́ gọi là lửa, như thế kia th́ gọi là củi v.v... ; lửa và củi cũng chỉ là tên gọi ảo hóa lâm thời mà thôi. Bởi lẽ, lửa và củi trong tên gọi th́ không phải là lửa và củi trong thực tại ; chúng hoàn toàn khác nhau. Và nếu chúng cùng được đặt trên nguyên lư của đồng thể và dị thể, th́ gọi thế nào cũng sai cả. C̣n bản chất của thực tại, nó vốn là ḍng vận hành bất tuyệt, không đối đăi, không tên gọi và không mâu thuẫn. Nó là vậy thôi.

    4- Đặc tính của sự phủ định

    Từ những điều dẫn trên, ta thấy rằng, những ǵ được nói ra ở đây đều là nói trong sự giả định, và những ǵ nằm trong sự giả định đều là vô thực và phi hữu. Cho đến những cái mà gọi là mê lầm, cuồng si cũng chỉ là pháp như mộng, như huyễn. Như thế, tất cả đối tượng nào c̣n nằm trong tương quan đối đăi của tri thức thường nghiệm th́ đều là giả danh. V́ khi đối diện với chân lư, nó không hiện hữu, cũng như cành hoa th́ có thể phản chiếu trong gương soi, nhưng tên gọi của cành hoa đó, đối diện trước gương soi, nó không thể hiện hữu. Từ đó cho thấy rằng, bản chất của tri thức không ǵ khác hơn là nơi cất chứa của những đối tượng phù vân ảo hóa và chính nó cũng là những ǵ được cấu thành từ ảo hóa. Cho đến khi nào mọi đối tượng giả lập này bị hủy diệt, th́ bản chất của tri thức mới thật sự hiện tiền, bấy giờ nó mới có đủ khả năng để lĩnh hội thực tại, hay nói khác đi, chính nó và ḍng thực tại đồng nhất thể.

    Như thế, đặc tính của sự phủ định trong Trung Quán không phải là khước từ hay phủ nhận sự hiện hữu của thế giới thực tại khách quan, v́ thế giới th́ luôn luôn hiện hữu như là chính nó ; nó cũng không cần thiết phải trở thành đối tượng cho tri thức, là đối tượng hay không là đối tượng, nó vẫn như thế.

    Về vấn đề này, Long Thọ đưa ra một thí dụ như sau. Trong một căn nhà đóng kín, bên trong đó có thiên thần xuất hiện hay không là điều chưa biết. Nhưng ở bên ngoài, mọi người cứ bàn tán xôn xao là có thiên thần và không có thiên thần bên trong. Nếu một ai đó nói là có thiên thần, th́ không phải do câu nói đó mà thiên thần bỗng dưng xuất hiện ; hoặc do nói không có mà thiên thần biến mất. Dầu ở bên trong thực có hay không có thiên thần, cuộc bàn tán xôn xao bên ngoài là vô cùng tận. Và trong đám đông xôn xao đó, bậc thức giả là người im lặng, cho dầu ông thấy được sự thật ở bên trong. Và, ông cũng không có lư do ǵ để tỏ bày sự thật đó khi mà mọi người c̣n đang ở bên ngoài và cánh cửa vẫn chưa được mở ra.

    Tóm lại, phép phủ định biện chứng của Trung Quán là con đường dẫn đến sự phá hủy mọi định kiến về hữu, vô, sinh, diệt...., mọi cơ đồ giả lập, mộng mị được cất lên từ vọng thức nhằm trả lại sự hiện hữu-như thế cho thế giới thực tại-Tính Không. Mỗi bước chân đi của nó không hề để lại dấu vết nào cho tư duy hữu ngă, tựa như vết chân chim giữa hư không bao la chẳng thể nào t́m được. Đó là một lối biện chứng siêu việt mà hễ nói ra th́ tất cả đều tan biến, v́ ngay từ cơ bản, nó đă phóng thích cả chủ thể lẫn đối tượng, cho đến cái ư niệm về chủ thể và đối tượng cũng bị đẩy ra khỏi giới tuyến của luận lư.

    Đối diện trước làn sóng phủ định liên hồi của Trung Quán, không một sự thể nào có thể dựng lập, cho đến sự móng khởi của ư niệm cũng đành phải băng tiêu. Đây chính là sứ mệnh của nó, một sứ mệnh đặc biệt được phối trí cho mọi sự nở nụ trưng bày cái bản thể thanh nguyên vốn từ ngh́n xưa và cho đến bây giờ vẫn không sinh, không diệt.

    "Người về bóng vắng ngàn cây
    Bập bềnh sông nước tháng ngày có không
    Tiếng kinh ch́m lặng giữa ḍng
    Giật ḿnh vẫy gọi ai trong cơi về".

    B.- Khảo Sát Về Nhân Duyên

    (Trung luận, Chương I, gồm 16 bài tụng, ĐCTT/ĐTK, No 1564, tập 30, trang 01..., phẩm Quán nhân duyên)

    Theo như quan niệm của một số các bộ phái Phật giáo, cũng như quan niệm thông thường của chúng ta, th́ mọi sự thể hiện hữu trên đời này đều do nhân duyên sinh ra. Đây là một hệ luận ảnh hưởng sâu đậm tinh thần Phật giáo Bộ phái và nghe có vẻ như là nó luôn luôn khế hợp với chân lư thực tại. Các pháp do nhân duyên sinh ra, điều đó có thể tỉ dụ như cái b́nh gốm vậy, nó không thể tự nhiên mà có. Sự tựu thành của nó là do người thợ gốm dùng đất sét nhào nặn rổi kết hợp với nhiều yếu tố khác nhau mà tạo thành cái b́nh gốm.

    Ở đây, theo quan điểm của một số bộ phái th́ một sự thể muốn tựu thành phải có đầy đủ nhân duyên. Nhân là nguyên nhân chính (tự tính) trực tiếp sinh ra quả, và duyên là sự tác động phụ trợ từ bên ngoài (tha tính), cộng hai thứ đó lại (tự và tha) nên gọi là "nhân duyên". Và tất cả thế giới sự vật hiện tượng này từ con người cho đến muông thú và cỏ cây hoa lá đều được sinh khởi từ nhân duyên. Với một hệ luận như thế trong tri thức chúng ta làm sao mà không chấp nhận được.

    Ở đây, luận đề triết học đầu tiên của Trung Quán là phê b́nh những kiến chấp sai lầm về nhân duyên của học phái Vaisesika và Đại chúng bộ.

    1- Bài tụng số 3 :

    "Các pháp không phải tự nó sinh,
    Cũng không phải từ cái khác sinh
    Không cùng sinh và không phải vô nhân
    V́ thế, biết nó là vô sinh"
    (2 ḍng chữ Nho)

    Trước hết, khi phủ định một tự thể, Long Thọ nói rằng tự thể đó :

    a)- Không sinh khởi từ chính nó

    Nếu một tự thể mà được sinh khởi (chưa có trở thành có) từ chính nó, th́ tất yếu, nó phải hàm chứa hai yếu tố - chủ thể sinh và cái được sinh. Và nếu chủ thể sinh và cái được sinh là hai yếu tố sai biệt, nghĩa là một bên là nhân (chủ thể sinh) và một bên là quả (cái được sinh), th́ tất nhiên, chúng có hai tự thể khác nhau. Như thế, một tự thể mà có những yếu tố khác nhau th́ không thể gọi là tự thể, hay là không tự thể, cũng như hư không không thể sinh ra từ hư không, và cũng không bao giờ có cái hư không thứ hai nào khác với bản thể hư không vốn tự hữu. Do đó nói rằng, một tự thể không sinh khởi từ chính nó.

    b)- Không sinh khởi từ một cái khác

    Nếu một tự thể, như lửa chẳng hạn, th́ cái khác nó, như nước chẳng hạn, cũng là một tự thể. Và mỗi tự thể đều có yếu tính của nó (như lửa th́ nóng, nước th́ lạnh v.v...) - v́ thế, tự thể này không thể được sinh ra từ tự thể kia, và tự thể kia cũng không thể được sinh ra từ tự thể này. Do đó, nói rằng, một tự thể chính nó không thể được sinh ra từ một tự thể khác nó.

    c)- Không sinh khởi từ cả hai

    Như thế, một tự thể nếu đă không được sinh khởi từ chính nó, cũng không thể được sinh khởi từ cái khác nó; vậy th́ cũng không thể được sinh khởi từ hai tự thể khác nhau hợp lại. Ở đây, Trung luận phủ quyết luôn cả sự phối hợp của hai tự thể độc lập, v́ nếu có thể phối hợp được, th́ chính nó sẽ đánh mất cá biệt tính của nó. Sự kiện này cũng giống như lửa và nước, do có những yếu tính khác nhau mà chúng không thể cùng ḥa phối với nhau. Do đó, nói rằng, một tự thể không thể được sinh khởi từ cả hai - nó và cái khác nó (tự và tha).

    d)- Không sinh khởi không phải v́ không có nguyên nhân

    Bất kỳ một sự thể hiện hữu nào cũng được xem như là kết quả của những nguyên nhân. Không có một kết quả nào mà không có nguyên nhân. Nguyên nhân chính là lư do hiện hữu (raison d'être) của kết quả. Do đó, nói rằng, không sinh khởi không phải v́ không có nguyên nhân.
    florida80_is_offline   Reply With Quote
    Old 12-14-2019   #3
    florida80
    florida80's Avatar
     
    R10 Vô Địch Thiên Hạ
    Join Date: Aug 2007
    Posts: 73,550
    Thanks: 4,670
    Thanked 33,061 Times in 8,295 Posts
    Mentioned: 1 Post(s)
    Tagged: 0 Thread(s)
    Quoted: 507 Post(s)
    Rep Power: 92
    florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    Reputation: 127292
    Default

    2- Bài tụng số 4 :

    "Tự tính của tất cả pháp
    không phải sinh khởi từ trong duyên
    v́ bản chất của duyên là không có tự tính
    Đối với tha tính cũng như thế"
    ( 2 ḍng chữ Nho)

    Từ bốn trường hợp nêu trên (a-b-c-d), nếu thừa nhận bản chất của tự thể như là những yếu tính cá biệt, độc lập, th́ đương nhiên, không thể thừa nhận sự có mặt của tất cả hiện hữu trong thế giới sai biệt đa thù này. Và ngược lại, nếu thừa nhận sự có mặt của tất cả hiện hữu, th́ nhất định không thể chấp nhận sự có mặt của các yếu tính cá biệt, vốn được xem là tự thể đặc thù.

    Như vậy, đi đến kết luận - rằng các pháp là vô tự tính. Do đó, bài tụng số [4] xuất hiện như là một kết luận, và nó nói rơ, tự tính của các pháp không phải là được sinh khởi từ trong "duyên" (theo như được quan niệm). V́ bản chất của duyên là không có tự tính, cho nên tha tính cũng như thế, nghĩa là nó không có. Ở đây, Trung Quán phê bác cả tự tính (nhân) và tha tính (duyên), v́ cả tự và tha đều vô tính. Do đó, kết luận là "Duyên sinh vô tính".

    Do duyên sinh vô tính là nguyên lư cơ bản của mọi sự sinh khởi, nên tất cả hiện tượng sự vật thống nhất và đa thù trong thế giới tương duyên này đều được gọi là giả danh, không thật có tự thể. Nó là sự biểu hiện của "Duyên khởi", mà bản chất của Duyên khởi là KHÔNG (SUNYATA). Như thế, "Duyên khởi" và "Không" là lư tính đặc thù của "Trung đạo".

    3- Bài tụng số 5 :

    "Tất cả pháp trên đời
    Đều được sinh khởi từ bốn duyên :
    nhân duyên và vô gián duyên (80)
    sở duyên duyên và tăng thượng duyên
    Ngoài bốn duyên sinh này
    Không có duyên thứ năm nào khác".
    ( 2 ḍng chữ Nho)

    Như thế, tất cả pháp đều được biểu hiện từ bốn duyên :

    a)- Nhân duyên :

    Nhân duyên ở đây không nhằm chỉ đến tự thể, cá thể, hay cá biệt tính nào hết, mà nhân là sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư) và duyên là sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), do căn và trần tiếp xúc với nhau mà thế giới sai biệt đa thù này được biểu hiện khác nhau.

    b)- Vô gián duyên :

    Chính do nơi sự tiếp xúc không gián đoạn giữa tâm thức và các biểu hiện của nó (tâm sở) mà thế giới sai biệt đa thù này được cấu thành trong tương quan của nhận thức.

    c)- Sở duyên duyên :

    Mối quan hệ giữa tâm và các biểu hiện của nó (tâm sở) là do nương tựa vào duyên mà vận hành, nên gọi là duyên-duyên. Do duyên duyên mà mọi biểu hiện của thế giới sai biệt này được nh́n nhận như là một tổng tướng.

    d)- Tăng thượng duyên :

    Do tính cách năng động của các quan năng (6 căn) tác động vào thế giới hiện hữu mà sinh khởi lên những biểu hiện-sáng tạo trong cơ đồ của tâm thức, như là ḍng vận hành bất tuyệt và liên hổi vượt qua mọi chướng ngại, nên gọi là tăng thượng.

    Tóm lại, thế giới quan của Trung Quán là những ǵ sinh khởi từ "Bốn duyên", và đó cũng là những ǵ có thể nói được trong cái nh́n của triết học Trung Quán.

    (Đây là phần đại cương khảo sát về nhân duyên).

    (c̣n tiếp)





    ..."...Tất cả mọi việc thế gian,
    Đều như mộng, huyễn, ảnh hiện,
    Như giọt sương mai, điện chớp
    Đến...đi...mau lẹ như thế..."...
    (Ư kinh Kim Cang)
    florida80_is_offline   Reply With Quote
    Old 12-14-2019   #4
    florida80
    florida80's Avatar
     
    R10 Vô Địch Thiên Hạ
    Join Date: Aug 2007
    Posts: 73,550
    Thanks: 4,670
    Thanked 33,061 Times in 8,295 Posts
    Mentioned: 1 Post(s)
    Tagged: 0 Thread(s)
    Quoted: 507 Post(s)
    Rep Power: 92
    florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    Reputation: 127292
    Default

    C.- Khảo Sát Về Thời Tính

    (Trung luận, Chương II, gồm 25 bài tụng, ĐCTT/ĐTK. No.1564, tập 30, trang 03..., phẩm Quán khứ lai).

    Chúng ta thấy rằng, Trung luận được mở đầu từ phẩm "Quán nhân duyên", mà trong "Quán nhân duyên" th́ được mở đầu bằng Tám cái không (Bát bất). Tám cái không này là nội dung cơ bản của phép biện chứng phủ định, hay nói đúng hơn, nó là điểm trung tâm, xuyên suốt toàn bộ phép biện chứng của Trung Quán. Trong thể cách diễn đạt, nó được nói đến bằng Tám cái không, nhưng thực chất mục tiêu tối hậu của nó, nếu có thể nói được, cũng chỉ là "Nhất thiết pháp không". Và "không" như thế nào, trong phần "Phê b́nh nhân duyên" đă tŕnh bày khái lược. Giờ đây, bước sang một luận đề thứ hai đó là phê b́nh về "Thời Tính".

    Như đă tŕnh bày ngay từ đầu, Trung luận ra đời nhằm mục đích "phá tà hiển chánh", phá bỏ mọi kiến chấp sai lầm để thể nhập thực tại-Tính Không. Nhưng trước viễn cảnh của thực tại, chứng lư tối thượng và hiển nhiên của con người vẫn là thế giới được vây bủa bởi muôn ngàn sự thể cá biệt mà hoài vọng của tri thức thường t́nh luôn mong muốn sở hữu hóa căn tính tự nhiên của sự vật và bao phủ cho mỗi mỗi hiện thể một ngă tính độc lập hay là một bản sắc cá biệt, để rổi bám víu lấy nó dễ dàng hơn.

    Và bao lâu tri thức của con người c̣n hoạt động trong sự thủ trước như thế, th́ đối tượng của tri thức vẫn là sự hiện hữu của vô vàn sai biệt. Như thế, làm sao chúng có thể một phen diện kiến "chân lư" trên đỉnh hư không, khi mà mọi thứ điên đảo mộng tưởng của trần gian mộng mị đều đặt trọn trên đôi vai vuông vắn của chúng. Nếu muốn quay trở lại, th́ trước tiên hăy quăng tất cả những ǵ được thủ trước ngay trong tâm thức của ḿnh, để trả nó cho nó một sự thanh b́nh. V́ chỉ có sự thanh b́nh thực thụ mới khả dĩ đi vào hiện quán và thể nhập thực tại-Tính Không. Và như thế, vấn đề được đặt ra ở đây chính là vô thường - cánh cửa đầu tiên để tiếp xúc với Tính Không.

    Do năng lực hiện quán về vô thường, mà con người rơ được cái tính chất như mộng như huyễn của sự vật, từ thế giới ư niệm cho đến thế giới hiện thực khách quan, như cỏ cây, hoa lá, sông suối, núi đổi, chiếc xe, ṭa nhà, con voi, con ngựa, đàn ông, đàn bà... Vả lại, khi đối diện với thế giới hiện thực, con người thường đụng phải các nguyên lư công ước về nhân quả, về thời gian v.v... Và, nếu thừa nhận định luật nhân quả th́ đương nhiên phải thừa nhận sự hiện hữu của thời tính như đă được phạm trù hóa theo thể cách của quá khứ, hiện tại và vị lai. Và như thế, một sự thể nếu được quy định bởi nhân quả và thời gian, th́ sự thể đó chỉ có thể xuất hiện như một tổng thể và chỉ làm đối tượng cho tri thức thường nghiệm.

    Và, nếu chỉ nhận diện hiện hữu qua tổng thể, hay tổng tướng của nó không thôi, th́ đó là một nhận thức phiến diện và sẽ không bao giờ đạt đến bất kỳ một sự thật nào cả. Do đó, chỉ khi nào đạt đến một sự kiến chiếu từ trong cái bản thể tự nội, th́ khi đó mới đủ khả năng thể nghiệm chân lư. Đó chính là khi mà chủ thể hiện quán và đối tượng hiện quán cùng hiện hữu trong mỗi sát na sinh diệt ; ở đó, mọi sự thể đều được hiển bày trong tự tướng của nó trên cùng "ḍng vận hành" của thực tại-chân thực, một thứ thực tại phi thời gian. V́ thế, những nỗ lực của Trung Quán trong việc phủ định mọi nguyên lư công ước của thời gian cốt là để giúp soi sáng mọi sinh mệnh phù vân của hiện thể trước định luật vô thường.

    1- Bài tụng số 1 :

    "Cái đă đi không đi
    Cái chưa đi cũng không đi
    Ngoài cái đă đi và chưa đi
    Cái đang đi cũng không đi"
    (2 ḍng chữ Nho)

    Bài tụng trên, như ta thấy, trước hết, nó giả định một "chủ thể đi" và một "hành động đi" trên căn bản của ba thời - quá khứ, hiện tại và vị lai ; rổi sau đó, nó phủ định cả "tính cách vận hành của hiện thực" và "thời tính của hiện thực".

    Trước hết, bàn về thời tính của hiện thực. Do thừa nhận giá trị của tương quan nhân quả (từ nhân đi đến quả) của một sự thể hay một tác dụng mà buộc ḷng phải nói đến thời tính. Ở đây, thời tính xuất hiện như sự nối kết của một ḍng tương tục kéo dài từ quá khứ đến hiện tại và vị lai. Tỉ dụ, một kẻ bộ hành lang thang trên con đường dài vô tận, đi qua một đoạn đường rồi anh ta dừng nghỉ ; như thế, điểm dừng nghỉ sẽ được gọi là hiện tại, và khi hiện tại được nói ra, thế có nghĩa là điểm hiện tại đó xuất hiện trong tương quan nối kết giữa quá khứ (đă đi), hiện tại (đang đứng) và tương lai (sẽ đi). Như vậy, bất kỳ một hiện tại nào, cũng cưu mang trước nó một tương lai và sau nó một quá khứ. Nếu không có quá khứ sẽ không có hiện tại ; nếu không có hiện tại sẽ không có vị lai ; quá khứ và vị lai nếu không có, th́ hiện tại cũng không có. Do đó, trong diễn tiến của suy luận, trước bất kỳ một điểm hiện tại nào cũng có một chuỗi dài của quá khứ, hiện tại và vị lai. Ở đây, tính chất của thời tính chỉ được xét đến trong tương quan với tác dụng mà thôi. Ngược lại, đối với một sự thể không có tác dụng, nghĩa là không nằm trong đối tượng của tri thức, th́ đương nhiên, thời tính sẽ không được bàn đến.

    Trở lại với bài tụng trên, chúng ta thấy rằng, "cái đă đi không đi", v́ hành động đi đă xảy ra rổi, nó không có trong hiện tại. "Cái chưa đi cũng không đi", v́ hành động đi chưa xảy ra. Và "cái đang đi cũng không đi", v́ hành động đang đi không thể xác định, gọi là "đang đi" v́ nó tương quan với cái "đă đi" và "sẽ đi". Và để giải rơ hơn sự kiện này, bài tụng số 12 nói:

    "Không có hành động vừa cất bước trong cái đă đi,
    Không có hành động vừa cất bước trong cái chưa đi,
    Không có hành động vừa cất bước trong cái đang đi,
    Vậy, hành động vừa cất bước xảy ra ở chơ nào ?"
    (2 ḍng chữ Nho)

    Từ bài tụng trên, ta sẽ bàn đến tính cách vận hành của hiện thực. Ở đây, nếu căn cứ vào nguyên lư Duyên khởi, th́ rơ ràng thời gian vốn là không có thực thể, nó chỉ được nói đến trong ư niệm và chỉ có trong ư niệm chứ không có trong thực tại. Bởi lẽ, trước hết nó hoàn toàn không có một biên giới nào để phân định giữa khoảng cách của ba thời. Cũng cùng một khái niệm thời gian, như hiện tại chẳng hạn, nhưng đối với người này th́ nó là quá khứ, đối với người khác là vị lai v.v... Cho đến cái mà gọi là hiện tại chính nó cũng là bất định. V́ nó luôn luôn là hành động đă khởi và vẫn c̣n đó, tức là ngay nơi điểm mà hành động bắt đầu. Như thế, đó là một thứ hành động bắt đầu và phải "bắt đầu măi măi"..., nếu vượt qua th́ trở thành quá khứ, mà dừng lại th́ biến thành tương lai. Do đó, sẽ không có bất kỳ một hiện tại thuần túy nào có thể hiện hữu trong ḍng vận hành của thực tại. Như tiếng vỗ của bàn tay, nếu không vỗ sẽ là vị lai, nếu vỗ sẽ là quá khứ, c̣n hiện tại, nó chỉ là một ư niệm được phát sinh trong tương quan giữa quá khứ và vị lai, vậy thôi.

    Dù có hay không có một giả định về thời gian, mọi hiện hữu đều phải trôi lăn theo định luật vô thường, nghĩa là chúng luôn luôn vận hành, một sự vận hành bất tuyệt vượt qua mọi khuôn khổ của thời gian, vượt qua mọi ư niệm trong tri thức và trong suy luận. Đó là một thứ vận hành mà trong con mắt của tri thức thường t́nh, biểu hiện của nó là sinh, lăo, bệnh, tử ; là sinh, trụ, dị, diệt ; là thành, trụ, hoại, không ; là phân, ly, phi, tán v.v...

    Sự bàn luận như trên cốt là để phá hủy mọi khuôn khổ ước lệ và ư niệm về thời gian trong cái nh́n được phóng chiếu trên chiều tuyệt đối. Phủ định sạch trơn về quá khứ, hiện tại và vị lai ở đây không có nghĩa là sự phá vỡ mọi cơ cấu trật tự của nguyên lư tương quan nhân quả, nếu xét trên b́nh diện công ước ; cũng không phải là sự thừa nhận có một khả thể tồn tại theo kiểu bây giờ và ở đây (the here and now). Mà trái lại, mục tiêu thực tiễn của nó chính là sự khai thông-phương tiện nhằm đưa đến một sự toàn tri (giác ngộ) trong bản thể-thực tại-chân như, TATHATA.

    (Đây là phần đại cương khảo sát về thời tính).
    florida80_is_offline   Reply With Quote
    Old 12-14-2019   #5
    florida80
    florida80's Avatar
     
    R10 Vô Địch Thiên Hạ
    Join Date: Aug 2007
    Posts: 73,550
    Thanks: 4,670
    Thanked 33,061 Times in 8,295 Posts
    Mentioned: 1 Post(s)
    Tagged: 0 Thread(s)
    Quoted: 507 Post(s)
    Rep Power: 92
    florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    Reputation: 127292
    Default

    D.- Khảo Sát Về Tứ Đế

    Qua phần tŕnh bày về "nhân duyên" và "thời tính", chúng ta hẳn phần nào nắm bắt được lối nói đặc thù của Trung Quán, đó là một lối nói biện luận và phân tích cụ thể các vấn đề, cho dù được xem là nhỏ nhoi. Và những ǵ được phân tích đại cương trên cũng là những bước đi cơ bản để đọc và hiểu Trung Quán.

    Dưới đây sẽ là phần tŕnh bày về Tứ đế, Chương thứ XXIV, gổm 40 bài tụng, ĐCTT/ĐTK, No.1564, tập 30, trang 32. Phần tŕnh bày này được xem như là tóm tắt thông điệp chính của toàn bộ Trung Quán luận. Độc giả nếu muốn t́m hiểu thêm xin đọc nguyên bản Việt dịch Trung Quán luận và các phụ bản đối chiếu chữ Sanskrit và chữ Hán ở phần sau.

    Theo truyền thống, giáo lư Tứ thánh đế được xem như là một trong những giáo lư cơ bản nhất của Phật giáo. Nội dung của nó là nói lên sự thật (Thánh đế) của khổ đau, nguyên nhân khổ đau, sự chấm dứt khổ đau và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau.

    Tứ đế được Phật nói ra trong thế cách đặc thù của Trung đạo, nghĩa là nó vừa là nền tảng, lại vừa là đỉnh cao trong sự đưa đến thể nhận hai chân lư - chân đế và tục đế - một cách toàn diện. Có thể nói rằng, trong suốt quá tŕnh truyền giáo của Phật từ sau khi Ngài thành đạo cho đến lúc nhập Niết bàn - theo quan niệm lịch sử - Ngài đă khởi sự truyền giáo bằng bài pháp Tứ đế, và Ngài đă kết thúc công cuộc truyền giáo cũng bằng pháp Tứ đế. Do đó, vai tṛ của Tứ đế vô cùng quan trọng, nó làm nền tảng cho toàn bộ cơ đổ của lịch sử phát triển Phật giáo.

    Bây giờ, đến lượt Tứ đế được soi sáng trong đôi mắt của Trung Quán. Như chúng ta đă biết, tiền đề triết học của Trung Quán là "nhất thiết pháp không", vậy định mệnh của Tứ đế sẽ như thế nào đây? V́ lẽ, nếu phủ nhận Tứ đế, có nghĩa là phủ nhận khổ đau, phủ nhận nguyên nhân của khổ đau, phủ nhận Niết bàn và phủ nhận luôn cả con đường dẫn đến Niết bàn. Và nếu chấp nhận như thế, th́ xem như là phủ nhận luôn cả sự có mặt của các quả vị Thanh Văn, La Hán, Bích Chi, Bổ Tát và cho đến Phật đạo.

    Nhưng, nếu phủ nhận tất cả (như tiền đề của Trung Quán nói), mà không phủ nhận Niết bàn, Thanh Văn, La Hán... cho đến Bích Chi, Phật đạo th́ hóa ra tiền đề Trung Quán là hư dối? Vậy, sự thể sẽ như thế nào ? Trung luận nói rơ:

    "Nếu cho rằng tất cả đều là không, không có sinh cũng không có diệt, như thế sẽ không có khổ-tập-diệt-đạo, bốn pháp Thánh đế. Do không có Bốn thánh đế mà khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự chấm dứt khổ đau và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau cũng không có. Do không có Bốn thánh đế nên không có bốn đạo quả, và không có luôn cả bốn hướng, bốn đắc. Và nếu như không có Bát thánh hiền Tăng, th́ Tăng bảo cũng không có ; nếu Bốn thánh đế không có th́ Pháp bảo cũng không có ; nếu Tăng bảo Pháp bảo không có th́ Phật bảo cũng không có. Và nếu cho rằng như thế, là phá hoại Tam bảo (?). Nếu chấp rằng "nhất thiết pháp là không" là phá hủy cả nghiệp báo, nhân quả, tội phước, phá hủy cả Niết bàn và các pháp thế gian (?)" (các bài tụng từ số 01 đến số 06).

    Và để giải thích những nạn vấn trên, Long Thọ đă trả lời một cách dứt khoát rằng :

    "Chính v́ bản chất của các pháp là đều do duyên khởi, nên tôi nói là KHÔNG, là GIẢ DANH và cũng là Trung Đạo" (bài tụng số 18).
    (2 ḍng chữ Nho)

    Và Long Thọ cũng nhắc nhở rằng :

    "Khi nói pháp để độ chúng sinh, Phật căn cứ trên hai chân lư (Nhị đế)... Nếu người nào không biện biệt được hai chân lư này, th́ không thể hiểu được Phật pháp" (bài tụng số 08 và số 09).

    Như thế, ta thấy rằng tất cả những ǵ Phật nói ra đều là pháp phương tiện, tức là nói để cho người trần tỏ ngộ. Và pháp phương tiện th́ không thể nói là chân đế mà chỉ là tục đế. V́ lẽ, đối với chân đế th́ tuyệt vọng vô ngôn, nó là bất khả thuyết bởi ngôn ngữ. Và đó chính là cảnh giới hiện quán của Phật, một con người giác ngộ. Mặc dù, giữa Phật và chúng sinh tuy không khác trong "Tỳ lư hoa tạng", nhưng khi chưa giác ngộ th́ chúng sinh là những sinh linh đang ch́m đắm trong biển vọng cuổng si, làm thế nào mà Phật có thể hiển bày cảnh giới "chân thật bất hư" của Ngài cho chúng sinh. V́ thế, Ngài đă dùng đến phương tiện (tục đế) như là con đường duy nhất khả dĩ để thực hiện sứ mệnh truyền trao bức thông điệp "không lời" cho chúng sinh, dắt dẫn chúng đi vào thế giới của "ngh́n năm bất diệt".

    Do đó, tất cả những ǵ mà Phật nói ra là nói cho chúng sinh chứ không phải là nói cho Phật. Và như thế, khi nói Ngài phải dùng đến ngôn ngữ của chúng sinh ; mà ngôn ngữ của chúng sinh, như chúng ta biết, nó hoàn toàn bất lực trong việc miêu tả cảnh giới tuyệt đối. Vai tṛ của nó - tức ngôn ngữ - là ở chỗ "chỉ dẫn" chứ không phải là "miêu tả", như ngón tay chỉ mặt trăng (83), vậy thôi. Như thế, tất cả pháp được nói ra đều là pháp phương tiện. Điều này được Phật xác định trong kinh Pháp Hoa như sau :

    "Ba đời mười phương chư Phật, duy chỉ có một Phật thừa, không hai cũng không ba, trừ phi Phật dùng phương tiện nói".

    Và nếu quả là như vậy, th́ cái mà gọi là Phật, là Niết bàn, là Thanh Văn, La Hán v.v... cho đến các giáo lư như Không, Vô ngă v.v... đều được xem là pháp phương tiện; v́ nếu nó thật sự là chân lư cứu cánh th́ đương nhiên Phật đă không nói ra. Đây là điều được Long Thọ nhấn mạnh. Do đó, cái ǵ được nói ra ở đây là đều do Duyên khởi. Kẻ nào không biết được điều đó th́ gọi là kẻ kiến chấp mê lầm.

    Tuy nhiên, nói như thế không phải là để phủ nhận tất cả, mà trái lại, nói phủ định là nhằm khẳng định, khẳng định một "chân trời" không bao giờ hiện hữu trong tương quan đối đăi, mà con người hằng tưởng là nó ở ngang trong tương quan đối đăi. Cũng như một kẻ khùng điên đứng trước mặt biển xanh của đại dương bao la mênh mông, y cứ tưởng rằng ở đằng xa xăm vô tận bên kia có một đường chân trời thật sự, và y hăo huyền mơ mộng sẽ đạt đến bên cạnh chân trời. Mộng tưởng của y quả là điên dại, v́ vĩnh viễn sẽ không bao giờ có cái đường chân trời ấy. Nó vốn vượt lên trên mọi cương tỏa trong tương quan nối kết của trần gian, như mặt trời trên đỉnh phù vân ; cũng vậy, Niết bàn, Phật, không hề có trong suy tư và mộng tưởng, hà huống là có trong kết cấu logic của luận lư, ngôn từ. V́ thế, đối với những khái niệm về Phật, về Niết bàn v.v... th́ không phải là Phật, là Niết bàn thực thụ ; do đó, nó được gọi là Không, là Giả danh.

    Nhưng nếu pháp, như Phật, Niết bàn là không, là giả danh th́ sao lại xuất hiện các tên gọi định danh, và do đâu mà các tên gọi đó xuất hiện ? Điều này được Tăng Duệ, trong lời tựa viết cho Trung luận, nói rằng : "Thực phi danh bất ngộ", nghĩa là một sự thể nếu không được gọi tên th́ sự thể đó sẽ không được biết đến. V́ thế, KHÔNG và GIẢ DANH ở đây là nhằm chỉ đến cái tên gọi giả lập và cái tự tính giả lập mà con người áp đặt cho mỗi mỗi hiện hữu trong thế giới thực tại. Vả lại, thực tại chính nó như thế nào, có hay không có, dài hay tṛn, cứng hay mềm, đàn ông hay đàn bà v.v..., đó là điều không thể biết được khi mà con người chưa thể nhập vào ḍng vận hành của thực tại.

    Con người chỉ có thể gọi tên nó, đặt tên nó, định nghĩa nó theo sự thấy biết bất thường của con mắt khi trong khi đục, khi mờ khi tỏ, đại khái thế thôi. Từ đó, pháp được nói ra ở đây có ư nghĩa là Trung Đạo. Nghĩa là một mặt nó phá hủy mọi thiên kiến sai lầm của tục đế, một mặt nó làm cho chân đế được hiển thị trưng bày. Như thế, phá hủy là xây dựng và xây dựng là phá hủy. Trung đạo là như thế. V́ vậy, Long Thọ nói:

    "Nếu không nương vào tục đế th́ không thể đạt đến chân đế ; nếu không thể đạt đến chân đế, th́ không thể biết Phật pháp là ǵ".

    Tục đế và chân đế là một cặp song quan luận trong mọi tiến tŕnh suy cứu để đạt đến chân lư theo con đường ngôn ngữ. Và khi đă qua đến bờ bên kia rổi, th́ chân, tục không c̣n được bàn đến nữa.

    Và cuối cùng, Niết bàn nếu có thể quan niệm, th́ phải quan niệm như thế nào ? Long Thọ viết:

    "Nếu tất cả pháp là không, không có sinh cũng không có diệt, vậy đoạn cái ǵ và diệt cái ǵ mà nói là chứng Niết bàn ?".

    "Không có chứng đắc, cũng không có đạt đến, không có sinh cũng không có diệt, không có thường cũng không có đoạn, gọi đó là Niết bàn".

    Vậy Niết bàn là cái ǵ, ở đâu ?

    Long Thọ viết tiếp :

    "Niết bàn và thế gian không có ǵ sai biệt,
    Thế gian và Niết bàn cũng không có ǵ sai biệt,
    Niết bàn và thế gian chúng không hai, không khác".
    florida80_is_offline   Reply With Quote
    Old 12-14-2019   #6
    florida80
    florida80's Avatar
     
    R10 Vô Địch Thiên Hạ
    Join Date: Aug 2007
    Posts: 73,550
    Thanks: 4,670
    Thanked 33,061 Times in 8,295 Posts
    Mentioned: 1 Post(s)
    Tagged: 0 Thread(s)
    Quoted: 507 Post(s)
    Rep Power: 92
    florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9florida80 Reputation Uy Tín Level 9
    Reputation: 127292
    Default

    Đây là phần đại cương khảo sát về Tứ đế).

    E.- Phần Kết Về Trung Quán Luận

    Qua phần tŕnh bày đại cương về triết học Trung Quán, chúng ta thấy rơ một số nét cơ bản như sau :

    1- Trung Quán luận lấy tiền đề cơ bản của nó là "nhất thiết pháp không" để soi sáng cho mọi phê b́nh, luận giải của nó trước tất cả học thuyết. Đó là một tiền đề bất hủ vốn được xem như là một công án đặc thù và vĩ đại của toàn bộ triết học Trung Quán.

    Bất kỳ lúc nào và ở đâu, cái KHÔNG vẫn xuất hiện như là một vĩnh thể bất diệt, trong công ước cũng như trong tuyệt đối. Hễ mở miệng ra là KHÔNG, nói lên là KHÔNG, KHÔNG hiện hữu trong suốt ba thời trong ư niệm cũng như trong biểu hiện của thế giới thực tại. Cái ǵ ở đây có thể đối thoại với KHÔNG, chỉ là một sự IM LẶNG ; một sự IM LẶNG không phải trong tĩnh mịch cô liêu của thế giới hư vô không tận, mà là sự IM LẶNG trong CÔ KHỞI của thực tại chính nó đang mải miết trôi chảy, một thực tại không thể nói là "Bây giờ và ở đây".

    2- Cánh cửa đầu tiên để mở ra và nhảy vào cái KHÔNG chính là sự hiện quán về Duyên khởi và Vô thường. Nếu trước hết không tri nhận được nó th́ không thể biết ǵ về Tính Không. Không, một mặt nào đó là pháp đối trị theo như quan niệm b́nh thường ; nhưng mặt khác, nó chính là bản thể tự nội của thế giới Duyên sinh, một thế giới mà nếu không có nó th́ không thể h́nh thành. Nhưng không v́ thế mà Tính Không được xem như là một bản thể trường tổn, bất di bất dịch ; v́ ngay từ đầu của tiền đề cơ bản, nó đă phủ quyết tất cả, phủ quyết về mọi đối tượng hiện thể, rổi sau đó nó phủ quyết luôn cả chính nó. Cho đến khi nào, không c̣n thủ trước hoặc là có hoặc là không, th́ khi đó, cánh cửa bất tử sẽ mở ra cho những ai có mắt nh́n thấy, có tai để nghe.

    3- Sự nổi bật của giáo thuyết về Không là Trung đạo. Nó khai thông một con đường phương tiện để dẫn đến cứu cánh. Do đó, tự thân nó không bị rơi vào cực đoan, cho dù có thể nói nó là một thứ hư vô luận, một thứ phủ định luận v.v... Như thế, Trung đạo chính là điểm mở đầu của cuộc hành tŕnh về tâm linh, và cũng là điểm kết thúc trong cuộc hành tŕnh đó, một cuộc hành tŕnh vượt lên trên mọi đối đăi phân biệt, một cuộc hành tŕnh không có người đi, không có hành động đi, không có quá khứ, không có hiện tại và vị lai ; đó là một cuộc hành tŕnh mà không lưu lại bất kỳ một dấu vết nào của sự đi và đến.

    4- Đôi mắt KHÔNG tự nó không là ǵ cả, nhưng lại cưu mang một sức thần nhiệm mầu, hễ chiếu rọi vào đâu, th́ thể tính trơ ĺ bất động ở đó đều tan biến, như thần lực của ánh sáng. Khi nào và ở đâu, hễ nó xuất hiện th́ mọi bóng tối cho dù có ngự trị cả ngh́n năm từ một quá khứ xa xôi bất định nào, cũng đều "đứng dậy ra đi" trong niềm hỷ lạc của Vô Niệm. Sự phá hủy và tiêu diệt của tính Không là như thế.

    5- Giáo thuyết về Tính Không không hề phá vỡ mọi trật tự trong tương quan nhân quả, trong luân thường đạo lư. V́ ngay từ tự thể, nó đă KHÔNG, th́ lấy ǵ để gọi là phá vỡ khi mà chủ thể phá vỡ cũng không và hành động phá vỡ cũng không. Sự phá vỡ ở đây có hay không là tùy vào cái nh́n của mỗi con người. Pháp bản chất của nó vốn là như vậy (pháp nhĩ như thị). Nó không can hệ ǵ đến cái cơ cấu tuần hoàn của logic suy tư nội tại. Nó luôn luôn hiện hữu như là chính nó và theo thể cách của nó. Mọi đúng sai, đẹp xấu, có không, như thế này như thế kia v.v... là do tâm thức cuổng si của con người tự biểu hiện đấy thôi.

    6- Điều độc nhất vô nhị ở đây là sự lôi kéo về trần thế này và con người này một trú xứ nhân gian Tịnh độ từ đâu không biết... mà chúng ta cứ những tưởng trú xứ của niềm phúc lạc vô biên đó không có ở đây, ở mảnh đất gồ ghề, cấu nhiễm của những sinh linh đang thất thểu trong vui buổn, say tỉnh với bao nỗi khổ trầm luân. Dưới ánh sáng của Tính Không, lần đầu tiên chúng ta biết rằng quê hương của Niết bàn là trần thế. Và giật ḿnh réo gọi, "ối lồ lộ thay ! Phật đă vào Niết bàn ngay khi Ngài chưa đầy 40 tuỗi".

    7- Chấm dứt đường hí luận khi nào tri nhận toàn diện về Tính Không. Con đường dẫn đến sự toàn tri đó là Duyên sinh, Vô thường, Vô ngă, Giả danh, Trung đạo và Nhị đế.
    florida80_is_offline   Reply With Quote
    Reply

    User Tag List

    Thread Tools

    Posting Rules
    You may not post new threads
    You may not post replies
    You may not post attachments
    You may not edit your posts

    BB code is On
    Smilies are On
    [IMG] code is On
    HTML code is On


     
    iPad Tablet Menu

    HOME

    Breaking News

    Society News

    VietOversea

    World News

    Business News

    Other News

    History

    Car News

    Computer News

    Game News

    USA News

    Mobile News

    Music News

    Movies News

    Sport News

    Stranger Stories

    Comedy Stories

    Cooking Chat

    Nice Pictures

    Fashion

    School

    Travelling

    Funny Videos

    NEWS 24h

    HOT 3 Days

    NEWS 3 Days

    HOT 7 Days

    NEWS 7 Days

    HOT 30 Days

    NEWS 30 Days

    Member News
    Diễn Đàn Người Việt Hải Ngoại. Tự do ngôn luận, an toàn và uy tín. V́ một tương lai tươi đẹp cho các thế hệ Việt Nam hăy ghé thăm chúng tôi, hăy tâm sự với chúng tôi mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi giây phút có thể. VietBF.Com Xin cám ơn các bạn, chúc tất cả các bạn vui vẻ và gặp nhiều may mắn.


    Page generated in 0.23670 seconds with 13 queries